Đá tự nhiên – Đá làng Nhồi: Part 2: Lịch sử ghi danh

Khi làng Nhồi xứ Thanh được thiên nhiên ban tặng cho một “biển” đá, thung lũng đá, thì hàng trăm nghìn năm nay, người dân nơi đây trả ơn đá bằng việc dùng đôi tay tài hoa của mình thảo lên đá với nhiều hình thù. Nhìn những bức tượng đá, mái đình đá, chiếu thư bằng đá, bức rèm hoa, bia mộ đá… ta ngỡ như chúng đều có linh hồn.

Thổi hồn vào đá

Công trường của những người thợ là một bãi đất rộng, xung quanh toàn đá. Người dân thì lại gọi là “sân chơi” của những người yêu đá, say mê đá. Dưới cái nắng nóng, người ta vẫn lặn lội giữa “biển” đá, vật lộn với những khối đá khổng lồ mà hầu hết không che bạt chống nắng. Thậm chí có người không đội cả mũ để tránh mưa, nắng. Họ cứ đầu trần, chân đất hăng say với nghề mà quên cả thời gian và mọi thứ diễn ra xung quanh. Họ kiên nhẫn làm việc như chú ong chăm chỉ. Mặt của họ được phủ bằng một lớp bột đá trộn với mồ hôi nên loang lổ. Tóc của họ cũng được phủ bằng bụi đá nên khô đét, bết lại với nhau thành từng nhúm xơ xác, cằn cỗi. Da cháy xạm đi vì bụi, gió… và nắng. Vẻ đẹp đó nó hoang dã làm sao!

Những công trình hiện đại được phát triển từ làng nghề.

Giữa bụi, gió và nắng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Sao họ không bỏ nghề? Hay chuyển nghề khác nhàn hạ hơn, dễ kiếm tiền hơn? Tôi đã từng đặt câu hỏi này với Nguyễn Văn Thành, 29 tuổi, thợ đá làng Nhồi. Anh Thành thở dài nói: “Vâng! Cái nghề đá nó bạc bẽo lắm em ạ! Tháng chỉ kiếm được 3 triệu với thợ thường và tối đa 5 triệu với người thợ giỏi”. Trong khi đó, trước từ hồi năm 1995 thường xuyên có cảnh người chết vì khai thác đá, có người bị đá đè gãy chân. Giờ thì không còn cảnh tượng ấy, nhưng hầu hết thợ đá cũng không tránh khỏi ảnh hưởng sức khỏe vì bụi đá, nhất là bệnh phổi. Ông Dương Đình Bảy thì phân trần: “Đây này, mới tháng trước tôi phải nằm viện cả tuần vì bệnh phổi đấy!”.

Thợ đá Nguyễn Văn Hùng thì bảo tôi: “Cậu đừng hỏi vậy, bởi chúng tôi yêu nghề, say nghề của cha ông hàng trăm, nghìn năm nay. Chúng tôi muốn cống hiến cho các công trình hạng mục quốc gia như: tượng đài, lăng tẩm, đình chùa, miếu mạo, cho đến những tấm bia mộ đời thường nhất. Nghề đá đòi hỏi sự kiên nhẫn, do đó có những người không chịu được cơ cực nên bỏ nghề cũng là dể hiểu. Còn những ai trụ được với nghề, sống chết với nghề là những người đã chấp nhận hy sinh vì nghề”.

Có lần tôi hỏi nghệ nhân chạm khắc đá Nguyễn Văn Đức, năm nay anh 35 tuổi: “Thứ nhất, sao anh lại yêu nghề? Thứ hai là, ngấm nghề từ khi nào?”. Anh Đức chỉ nói gọn lỏn câu: “Tôi yêu nghề và ngấm nghề không biết từ khi nào. Nó cũng giống như con dái cá con mới đẻ ra là biết bơi, mà không biết vì sao mình biết bơi vậy”.

Đá trở thành sản phẩm không thể thiếu trong các công trình kiến trúc hiện nay.

8 năm trước, tôi đã từng chứng kiến cảnh người ta rậm rịch làm đá cả đêm trong một lần ghé thăm quê ngoại nơi đây. Không tưởng tượng được cảnh người ta mắc điện sáng trưng cả bãi đá. Người ta tạc những bức tượng cao cả 6-7m. Nghe nói trước đây khi làm tượng đài cao 15m, người ta phải làm giàn giáo, rồi bắc thang lên khối đá khổng lồ ấy để tạc. Thấy bảo đó là tạc hình ông Lê Lợi. Giờ bức tượng khổng lồ ấy được đặt ngay giữa trung tâm TP Thanh Hóa, như một tâm điểm kiêu hùng của xứ Thanh.

Giữa năm 2012 này, tôi lại càng ngạc nhiên hơn khi vẫn thấy cảnh cứ chiều chiều những chiếc xe tải chở đầy đá trở về làng. Nghe bảo đá ở làng Nhồi không đủ, với lại một số dãy núi đá bị cấm khai thác để làm di tích, vì nghe nói đá ở những ngọn núi quanh hòn Vọng Phu từng cống hiến cho việc xây thành quách, đặc biệt là xây lăng Bác Hồ.

Tuy nhiên, bây giờ người ta không còn làm việc ban đêm nữa, trừ các công trình cấp quốc gia. Thế nhưng, ban ngày người ta làm đá vẫn cứ rào rào như tằm ăn rỗi. Những người thợ vẫn hí húi đục, đẽo, chạm trổ đá với nhiều hình thù mới lạ. Họ không chỉ là nghệ nhân mà còn là họa sĩ, bởi trước khi đục đẽo thì họ phải thảo những bản vẽ của mình lên đá.

Cứ như chàng nghệ nhân Thành ở đây nói, người tạc đá có 3 loại. Loại thứ nhất chuyên tạc theo lối hoa văn truyền thống. Loại thứ hai chuyên tạc theo lối đơn đặt hàng, tức là họ đặt gì mình làm nấy. Còn loại nữa tạc theo phong cách tự mình sáng tác, những người theo lối thứ ba đều là các tay cao thủ thuộc loại tiền bối cả về tuổi đời lẫn tuổi nghề. Họ say mê đá và yêu đá, coi đá như đứa con tinh thần. Có những bức họa chỉ vì vô tình chộp được mà người nghệ nhân kịp phác thảo lên bàn đá nên để lại tuyệt tác cho đời. Nhưng có những bức họa chỉ lóe trong óc họ giây lát, rồi không hề quay lại nữa, cho dù mười năm, hai mươi năm, hay cả đời. Cho nên nghệ nhân chạm trổ đá cũng là người nghệ sĩ phải biết nắm bắt cái thần đúng lúc, để thổi hồn vào tác phẩm.

Sử sách ghi danh

Sách “Đại Nam nhất thống chí” có ghi: Từ thế kỷ thứ III, có một viên Thái thú đời Tấn đã lấy đá núi Nhồi làm khéng (kẻng), khi đánh lên nghe bảo tiếng ngân muôn dặm, ngoài ra còn dùng khắc bia văn chương.

Đến thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn… đá núi Nhồi được dùng xây dựng nhiều các công trình như: đình chùa, miếu mạo, lăng tẩm, phủ đệ.

Sau này đá núi Nhồi liên tục đóng góp vào việc xây dựng chùa chiền tầm cỡ lớn như: việc xây dựng nhà thờ Phát Diệm ở Ninh Bình, Phủ Giầy ở Nam Định. Đặc biệt ở làng có cụ Lê Thọ Thuẫn, còn dùng đá núi Nhồi tạc mô hình cầu Hàm Rồng, đưa đi triển lãm Hội nghị Mác-xây. Hội chợ này được mở năm 1922, nghe nói khi Vua Khải Định sang dự. Sau này về nước, Khải Định đã mời cụ Thuẫn vào cung và còn dùng đá núi Nhồi tạc nhiều hình thù như: bức rèm hoa, con ngựa, ông tượng, cho đến cối đá, cái tảng, cậy cột, cái xà, rồng đá… để trang trí cho phủ đệ của mình.

Công trình cổng đá mà Dũng Luxury Stone thi công tại một nhà dân.

Cho đến ngày nay người dân làng Nhồi vẫn còn nhớ như in cái chiến tích hào hùng nhất, đó là khi làm bia mộ Phan Đình Phùng và tấm bia Lê Lợi ở huyện Đà Bắc, sông Đà. Bởi hồi đó chiến tranh, bom đạn giặc quần thảo suốt ngày đêm, nhiều khi đang chạm trổ, thấy máy bay địch gầm rú ngang qua là lại phải chui tọt xuống hầm, máy bay đi khỏi lại chui lên làm tiếp. Bài thơ của Lê Lợi trên vách đá cạnh sông Đà cũng được thợ làng Nhồi khéo léo đục đẽo, tách ra khỏi vách núi trước khi xây dựng Nhà máy Thủy điện Hòa Bình, để nước khỏi nhấn chìm.

Nhớ lại hồi Chúa Nguyễn mở mang bờ cõi vào phương Nam, người dân Nhồi cũng theo đến Đà Nẵng, dựng lên một làng đá có tên là Non Nước, nay còn nổi tiếng hơn cả làng Nhồi.

Trong một lần tình cờ gặp TS Phạm Văn Đấu, cán bộ văn hóa tỉnh (sau này chuyển về Trường đại học Hồng Đức, giảng dạy chuyên ngành khảo cổ học), ông bảo, chính đá núi Nhồi cũng góp phần xây dựng thành nhà Hồ. Rồi cả chùa Bút Tháp, Lam Kinh, Tân Trào. Ngay cả Trúc Lâm Thiền viện tận Pháp, thợ làng Nhồi cũng sang tận nơi chạm trổ. Tượng đài Lê Lợi cao 15m cũng từ đá và thợ đá làng Nhồi “thổi hồn” vào mà thành. Rồi đá núi Nhồi cũng được dùng để lát quanh hồ Gươm nhân kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long.

Nhưng có lẽ niềm tự hào nhất của người dân xứ Thanh khi được đóng góp sức người, sức của vào việc xây dựng Bảo tàng và Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh.

tag: luxury stoneĐá onyxĐá Thạch anhĐá nhân tạokho đá ốp látđá ốp lát, stoneđánhà thầustoneluxury stoneĐá hoa vănĐá cầu thangĐá thang máyđá mặt tiềnđá graniteđá marbleđá bàn bếptranh đá cao cấotranh đá tự nhiênđá cao cấpphù điêu đáđá ốp bậc tam cấpđá ốp lát Hà Nộiđá ốp lát đẹpđá ốp lát uy tínnhà thầu uy tínđá ốp nền nhà,đá ốp biệt thự,

------- Bình luận bằng Facebook -------

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

9999.999.999
Hiển thị liên hệ